Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

Tính tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh

v LỜI NÓI ĐẦU
          “ Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành tư tưởng Hồ Chí Minh, bo gồm hệ thống những luận điểm lý luận được rút ra từ thực tiễn cách mạng, từ sự kế thừa và phát triển những tinh hoa cua dân tộc và trí tuệ của thời đại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác- Lênin nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản của quá trình phát triển từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến tiến dần lên chế độ xã hội chủ nghĩa có cơ cấu công- nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến có khả năng không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động”.
          Qua định nghĩa tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh ta có thể khẳng định nếu tư tưởng kinh tế của Người được quán triệt vận dụng tốt sẽ có tác dụng định hướng, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giải quyết hàng loạt vấn đề kinh tế mới do công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu đặt ra. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong qua trình đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, trên cơ sở tăng trưởng kinh tế tạo nền tảng vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội, văn hoá: gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Đó chính là tiền đề cho sự phát triển bền vững. Vì vậy việc nghiên cứu tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh một cách toàn diện, có hệ thống đang được đặt ra như một vấn đề vừa có tính cáp bách vừa có tính lâu dài, góp phần to lớn vào việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nước Việ Nam xã hộic hủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay và mãi mãi về sau.
          Trên cơ sở nêu ra tính tất yếu của sự tồn tại các thành phần kinh tế của nước ta trong thời kỳ quá độ, những nội dung cơ bản của Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần và sự vận dụng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới nhằm khẳng định Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy tính khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta và với tác dụng của nó sẽ giúp kinh tế của nước ta phát triển làm cơ sở để chúng ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
          Để thực hiện được mục đích trên trong quá trình làm tiểu luận em sử dụng các phương pháp: phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu ngoài ra em còn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích, khái quát hoá, thống kê
          Ngoài phần mở đầu và kết luận tiểu luận của em gồm 3 nội dung chính như sau:
I.                   Tính tất yếu của nền kinh tế  nhiều thành phần ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh
II.                Một số nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần
III.             Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do nhận thức còn hạn chế vì vậy tiểu luận của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô để các bài sau của em được tốt hơn. Em xin chân thành cảm ơn!











PHẦN NỘI DUNG
I. Tính tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Rất dễ nhận thấy tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự kế thừa trực tiếp các quan điểm lý luận của Lênin: cơ cấu các thành phần của một nền kinh tế phụ thuộc vào sự tồn tại của các hình thức sở hữu, các quan hệ sản xuất, vào trình độ phát triẻn của lự lượng sản xuất, của sản xuất hàng hoá trong thời kỳ quá độ, về vấn đề này Lênin chỉ rõ: nền kinh tế trong thời kỳ quá độ, xét về toàn bộ, nó là nền kinh tế quá độ, còn tồn tại nhiều hình thứuc sở hữu( sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp) do đó sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác nhau là một tất yếu khách quan.
Khi nghiên cứu chính sách kinh tế mới của Lênin để vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ trong kháng chiến chống Pháp, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ . ở vùng tự do của ta còn tồn tại 6 thành phần kinh tế sau đây:
“Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô, nhưng vì để thực hiện đại đoàn kết dân tộc, Đảng và nhà nước chưa chủ trương xoá bỏ ngay thành phần kinh tế này, mà chỉ thực hiện giảm tô, giảm tức, để tập hợp mọi lực lượng của dân tộc, đưa kháng chiến đến thành công.
Kinh tế quốc doanh, có tính chất xã hội chủ nghĩa. Là nền tảng của nền kinh tế dân chủ mới, dưới sự lãnh đạo thống nhất của chính phủ nhân dân.
Kinh tế hợp tác xã có tính chất nửa xã ội chủ nghĩa, do nhân dân giúp nhau mua bán không để con buôn bóc lột.
Kinh tế cá nhân, nông dân và thợ thủ công, có tính chất cá thể, tự cấp, tự túc, còn nhiều lạc hậu
Kinh tế tư bản tư nhân. Họ bóc lột công nhân nhưng đồng thời họ cũng góp phần xây dựng kinh tế nhà nước.
Kinh tế tư bản quốc gia là nhà nước hùn vốn với tư nhân do nhà nước lãnh đạo. Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản, tư bản của nhà nước là chủ nghĩa xã hội
Sự tồn tại của các tahnhf phần kinh tế nói trên phản ánh thực trạng của nền kinh tế kháng chiến cả về tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trong đó có hai thành phần kinh tế bóc lột nhất là kinh tế địa chủ, chưa thể xoá bỏ do yêu cầu của đại đoàn kết dân tộc. Còn kinh tế tư bản tư nhân tuy rất nhỏ yếu, có bóc lột nhưng bảo vệ quyền lợi của công nhân không cho họ bóc lột qua tay. Trong điều kiện khó khăn, kém phát triẻn của kháng chiến ta cần tranh thủ tận dụng vốn, kinh nghiệm sản xuất, tổ chức quản lý của nhà tư sản phục vụ cho kháng chiến lâu dài của ta, đáp ứng nhu cầu cân thiết của nhân dân.
Sau khi miền Bắc nước ta chính thứuc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong báo cáo về dự thảo hiến pháp Hồ Chí Minh nói rõ: Nhà nước ta vẫn thừa nhận còn 4 hình thức sở hữu chính: sở hữu của nhà nước, sở hữu của hợp tác xã, sở hữu của người lao động riêng lẻ và một ít sở hữư của nhà tư bản, do đó trong thựuc tế vẫn còn tồn tại các thành phần kinh tế sau:
Kinh tế quốc doanh: với tư cách là nền tảng vật chất của chủ nghĩa xã hội
Kinh tế hợp tác xã (của nông dân và thợ thủ công) được tổ chức theo nguyên tắc tự nguyện
Kinh tế công tư hợp doanh, thực chất là kinh tế tư bản nhà nước nhà nước góp vốn với nhà tư sản dân tộc cùng hợp doanh dưới sự lãnh đạo của nhà nước, qua đó giúp nhà tư sản tiếp thu, cải tạo hoà mình với nhân dân lao động cùng xây dựng tổ quốc.
Kinh tế của những người lao động riêng lẻ chưa có điều kiện gia nhập hợp tác xã
Do chưa nhận thứuc được thưòi kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử lâu dài, phải trải qua nhiều chặng đường, phải bắc nhiều nhịp cầu nhỏ để quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhất là ở một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa như ở nước ta, nên chúng ta cũng không nhận thức được sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế nhiều thành phần cũng là một tất yếu lịch sử. Do chủ quan nôn nóng chúng ta đã dùng biện pháp hành chính cưỡng bức để nhanh chóng xoá đi những thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, tưởng rằng như thế sẽ sớm có chủ nghĩa xã hội. Và chúng ta đã phải trả giá cho những việc làm trái quy luật kinh tế khách quan: Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Kinh nghiệm thực tế đã chỉ cho chúng ta thấy lực lượng sản xuất không chỉ kìm hãm trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đại hội Đảng lần thứ VI đã trở về với quan điểm của Hồ Chí Minh: coi nền kinh tế nhiều thành phần là đặc thù của thời kỳ quá độ. Vởy thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh về tính khách quan của các thành phần kinh tế trong thời ỳ quá độ là hoàn toàn đúng đắn.

II. Một số nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần
Hồ Chí Minh đã sớm nói về sự tồn tại nhiều loại hình sở hữu, và do đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau
A. Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghãi xã hội, vì nó là của chung của nhân dân)
B. Kinh tế hợp tác xã( nó là nửa chủ nghĩa xã hội và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội)
C. Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công( có thể tiến dần vào hợp tác xã tức là nửa chủ nghĩa xã hội)
D. Tư bản tư nhân
E. Tư bản của nhà nước( Như nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)
          Thứ tự sắp xếp các thành phần kinh tế ở Hồ Chí Minh trái ngược với Lênin, nhưng không tạo nên sự đối lập mà bổ sung hợp lý. Nếu Lênin sắp xếp các hình thức sở hữu theo lôgíc vận động khách quan của chúng, thì Hồ Chí Minh lại căn cứ vào vai trò thực tế của từng hình thức sở hữu trong chế độ mới để sắp xếp chúng. Xét về mặt này, sở hữu xã hội đứng ở vị trí cao nhất, bởi lẽ nó đang là nền tảng kinh tế của chế độ xã hội mới, chỗ dựa của nhà nước nhân dân; sở hữu xã hội chủ nghĩa quy định bản chất các quan hệ xã hội đang trong quá trình manh nha và định hình. Vai trò của kinh tế xã hội chủ nghĩa, theo Hồ Chí Minh, thể hiện ở chỗ: đâylà hình thức sở hữ chính, tồn tại trong ccs lĩnh vực then chốt, ảnh hưởng đến quốc kế dân sinh, có tác dụng hướng dẫn các loại hình kinh tế khác và là dòng chảy chủ đạo, mục đích hướng tới của tất cả các quan hệ và hoạt động kinh tế. Sở hữu xã hội chủ nghĩa cũng nằm trong quá trình vận động theo các tầng nấc thang từ thấp đến cao, tương ứng với trình độ tiến hoá của lực lượng sản xuất, quy mô xã hội của sản xuất xã hội. Quá trình vận động này có quy luật đặc thù, tất yếu khách quan và không thể bỏ qua một cách tuỳ tiện. Đánh giá mức độ tiến hoá của sở hữ tập thể - một hình thức sở hữ cơ bản dưới chế độ xã hội chủ nghĩa – Hồ Chí Minh đã chỉ rõ các nấc thang cần phải qua. “Đường lối cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp là đưa nông nghiệp làm ăn riêng lẻ đi dần từ tổ đổi công, tiến lên hợp tác xã cấp thấp, rồi tiến lên hợp tác xã cấp cao. Chính lực lượng sản xuất quy định sự vận động của các quan hệ sở hữu trong nội bộ chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa và các hình thức tổ chức sản xuất xã hội.
Khi hoà bình lặp lại trên miền Bắc, để chính thứuc hoá đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã cùng quốc hội sửa đổi hiến pháp. Trong báo cáo sửa đổi hiến pháp trước quốc hội Hồ Chí Minh đã trình bày đường lối chung tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đáng chủ ý trong đường lối chung đó là Người nêu rõ các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế ở nước ta trong thưòi kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chính sách đối với các loại hình đó.
Trong nước ta hiện nay có nhiều hình thức sở hữu của nhà tư bản. Mục đích của chế độ ta là xoá bỏ các hình thức không xã hội chủ nghĩa, làm cho nền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
Cũng trong báo cáo này Hồ Chí Minh còn nêu rõ các thành phần kinh tế trong thưòi kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, vai trò và xu thế vận động của chúng:
- Kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu toàn dân nó lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên.
- Kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động; nhà nước đặc biệt khuyến khích hướng dẫn và giúp đỡ nó phát triển
- Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ và ra sức hướng dẫn giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện.
- Đối với các nhà tư sản công thương, nhà nước không xoá bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo hướng chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công ty hợp doanh và những hình thức cải tạo khác.
Một điều đáng lưu ý trong tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh là : Người có quan điểm khách quan rộng rãi với kinh tế tư bản tư nhân trong nước như trên còn vì Người nhìn thấy tích chất đặc điểm riêng của giai cấp tư sản Việt Nam. Người đã nói: “Còn giai cấp tư sản ở nước ta thì họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước Vì tư sản nước ta họ bị Tây, Nhật áp bức khinh miệt , họ căm tức tư sản Nhật, cho nên nếu mình thuyết phục khéo họ có thể hướng theo chủ nghĩa xã hội
Người rất quan tâm đến việc làm ăn của Ngoại Kiều: “Các bạn, người buôn bán, kinh doanh, tiểu thương, tiểu chủ, công nhân, và trí thức đã chung sống với nhân dân Việt Nam. Vì vậy tôi khuyên các bạn: Các bạn cứ yên lòng làm ăn như thường. Nhân dân Việt Nam sẽ giúp đỡ và bảo hộ các bạn”.
          Chỉ rõ sự tồn tại và hoạt động đồng thời của nhiều thành phần kinh tế ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã đẩy lý luận đi tiếp một bước xa hơn, nêu bật lực lượng ccể xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa là của toàn dân, do toàn dân, vì lợi ích và hạnh phúc của mọi người . Đây là một phát kiến mới, kịp thời bổ sung vào lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong khi khảng định công nhân, nông dân, trí thức là đông lực chính của công cuộc xây dụng xã hội mới, Hồ Chí Minh không bỏ qua vai trò của các tầng lớp xã hội khác: tiểu thương, tiểu chủ, tư sản dân tộc.. Quan điểm này của Hồ Chí Minh hết sức nhất quán, đã hình thành từ những năm 30 trong Cương lĩnh đầu tiên – một cương lĩnh được coi là đã kết hợp độc đáo độc lập dân tọc và chủ nghĩa xã hội.
Qua việc trình bày những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần ta thấy rõ tư tưởng của Người về vấn đê này là hết sức rõ ràng nếu những tư tưởng đó được áp dụng thì chắc chắn chúng ta không có giai đoạn bao cấp từ 1975- 1985 đầy khó khăn, trắc trở gây lên những tổn thất to lớn. Đây là bài học to lớn trong việc vận dụng tư tưởng của Người trong giai đoạn tiếp theo trong tương lai.

III. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nhiều thành phần trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta.
Do nhận thức không đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nói chung và tư tưởng của Người về kinh tế nhiều thành phần nói riêng trong hoạt động thực tiễn chúng ta đã mắc phải những khuyết điểm nghiêm trọng. Chúng ta đã dùng biện pháp hành chính, cưỡng bức xoá bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa khi nó vẫn còn có tác dụng to lớn, còn lý do để tồn tại. Sai lầm khuyết điểm này chúng ta đã phải trả giá: từ 1975- 1985 nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng chính trị xã hội , lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng bị giảm sút.
Đại hội VI của Đảng là mốc son quan trọng đánh dấu thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, đổi mới thực chất là trở về những tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội xác định các thành phần kinh tế nước ta gồm:
Kinh tế xã hội chủ nghĩa: Bao gồm kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể
Các thành phần kinh tế gồm: Kinh tế sản xuất hàng hoá( cá thể); kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc (ở Tây Nguyên là các vùng núi cao)
Đại hội Đảng lần IX đã xác định nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta hiện nay gồm 6 thành phần cụ thể
Kinh tế nhà nước
Kinh tế tập thể
Kinh tế cá thể tiểu chủ
Kinh tế tư bản tư nhân
Kinh tế tư bản nhà nước
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Về phương hướng phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần, Nghị quyết đại hội IX chỉ rõ: “ Thực hiện nhất quán nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phậ cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”
Đại hội X chỉ rõ:” Trên cơ sở ba chế độ sở hữu toàn dân, tập thể, tư nhiên hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế:
Kinh tế nhà nước
Kinh tế tập thể
Kinh tế tư bản tư nhân ( cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân)
Kinh tế tư bản nhà nước
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh
Đánh giá thành tựu 20 năm đổi mới đại hội X khẳng định: “Hai mươi năm qua, với sựnõ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử”
Sau 20 năm đổi mới đất nước ta đã có sự thay đổi cơ bản và toàn diện:
Đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội
Tăng trưởng kinh tế khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh
Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt
Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường
Chính trị xã hội ổn định
Quốc phòng an ninh được giữ vững
Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao
Sức mạnh tổng hợp quốc gia đã tăng lên rất nhiều
Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành những nét cơ bản
Như vậy thắng lợi của 20 năm đổi mới là thắng lợi của đường lối kinh tế của Đảng ta thể hiện sự vận dụng và phát triển sáng tạo những tư tưởng kinh tế nhiều thành phần của Hồ Chí Minh về thực tiễn cách mạng Việt Nam. Vởy có thể khẳng định khi nào chúng ta nhận thức đầy đủ đúng đắn và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Hồ Chí Minh vào thựuc tiễn thì chúng ta giành được thắng lợi và ngược lại khi nào chúng ta nhận thức chưa đầy đủ, vận dụng máy móc, giáo điều thì chúng ta sẽ thất bại.



PHẦN KẾT LUẬN
Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt đầu hình thành từ những năm 20 của thế kỷ 20 và chủ yếu được thể hiện trong thời kỳ 1954- 1964 tức là từ khi Miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cho tới lúc Người đi vào cõi vĩnh hằng. Thời kỳ này nước ta phải đồng thời tiến hành 2 nhiệm vụ chiến lược cách mạng: xây dựng Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam
Bản thân Hồ Chí Minh bao giờ cũng nhận thức sâu sắc, thấu đáo nhu cầu thực tiễn và sự vận dụng phát triển tư duy lý luận. Người thường xuyên căn dặn: Phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác- Lênin để dùng lập trường quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác- Lênin mà tổng kết những kinh nghệm của Đảng ta. Phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta để dần dần hiểu được những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam định ra những đường lối phương châm bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta. Bản thân Người đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo chính sách kinh tế mới của Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam một nước nông nghiệplạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Quan điểm đường lối đúng đắn đó có tư tưởng kinh tế nhiều thành phần. Nhờ đó trong những năm đầu hoà bình lặp lại, nền kinh tế miền Bắc đã có những chuyển biến tích cực nhanh chóng mức sản xuất những năm 60 vượt hơn hẳn so với những năm trước đó đời sống cán bộ, công nhân miền Bắc bước đầu được cải thiện rõ rệt. Trong những năm tiếp theo đặc biệt từ năm 1975- 1985 tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế đã không được nhận thức đầy đủ vào thực tiễn nền kinh tế nước ta đi vào thời kỳ khủng hoảng
Từ đại hội Đảng lần thứ VI tiến lên đại hội X Đảng ta lãnh đạo và khưỏi xướng công cuộc đổi mới đất nước thực chất là quay trở lại tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt là những tư tưởng của Người về kinh tế.Thành tựu của 20 năm đổi mới đã khẳng định tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắc. Vậy những tưởng của Người nếu được nhận thức và vận dụng đầy đủ, sáng tạo, đúng đắn sáng tạo sẽ soi sáng con đường cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cuổi cùng là cộng sản xã hội chủ nghĩa






Ý nghĩa tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam hiện nay

PHẦN MỞ ĐẦU
          Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người. Nói đến tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là nói đến toàn bộ suy nghĩ và tình cảm đã chi phối suốt cuộc đời của Người- một cuộc đời đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập dân tộc, cho tự do và hạnh phúc của nhân dân, cho sự giải phóng của nhân loại và mỗi con người.
          Mặc dù Hồ  Chí Minh chưa hề viết hay nói một bài riêng có hệ thống về chủ nghĩa nhân văn. Tư tưởng nhân văn của Người toát ra từ cuộc đời đấu tranh không biết mệt mỏi đã gặt hái nhiều thành quả và để lại nhiều kỳ vọng cho đời sau.
          Nghiên cứu tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với tư cách là một nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào nền tảng tư tưởng mà đảng ta đã khẳng định. Đồng thời làm sáng tỏ đường lối của đảng ta nhằm phát triển toàn diện con người. Coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới dưới ánh sáng tư tưởng nhân văn của Người. Từ đó thấy rõ ý nghĩa tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
          Với mục đích trên em chọn đề tài: “ý nghĩa tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình.
          Trong quá trình làm tiểu luận ngoài việc sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của đảng ta, phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử, m còn sử dụng các phương pháp cụ thể: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp khái quát hoá, trừu tượng hoá
          Tiểu luận của em ngoài phần mở đầu, phần kết luận gồm có 2 nội dung
I.                   Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh
II.                Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay


PHẦN NỘI DUNG

I. TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH
          Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là một hệ thống những quan điểm, quan niệm Hồ Chí Minh về con người và cách ứng xử với con người,với công việc, với những sự vật hiện tượng khác vì con người hướng tới giải phóng triệt để con người thấm đượm tinh thần dân tộc và tính nhân loại sâu sắc.
          Từ khái niệm nhân văn Hồ Chí Minh chúng ta thấy rõ: Tư tưởng nhân văn của Người gồm 2 nội dung cơ bản:
          Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là học thuyết về con người của Hồ Chí Minh
          Thứ hai, cách ứng xử với con người với công việc. Các sự vật hiện tượng khác vì con người tiến tới giải phóng triệt để con người thấm đượm tinh thần dân tộc, truyền thống dâ tộc nhâ loại và quốc tế
          Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động giải phóng con người phù hợp với mọi điều kiện lịch sử nhất định đây là tư tưởng triết học sâu sắc nhất trong hệ thống triết học của Người quy định toàn bộ động cơ, đồng thời nó là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển đất nước của đảng trong đó quan trọng nhất là chính sách mang lại hạnh phúc cho con người và sự phát triển toàn diện con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân văn có những đóng góp mới vào tư tưởng nhân đạo cộng snả. Bằng những giải pháp cụ thể phù hợp với hoàn cảnh lịch sử đồng thời khắc phục được những thiếu sót trong những học thuyết tôn giáo về giải phóng con người, giải phóng con người hiện thực chứ không phải giải phóng con người trên lĩnh vực lý thuyết, tư tưởng, ước mơ. Vậy tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh góp phần giải phóng triệt để con người.
          Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh được hình thành từ 4 nguồn gốc
          Tư tưởng nhân văn dân tộc: Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trước hết bắt nguồn từ tư tưởng nhân văn dân tộc đó là tình yêu thương con ngươi, giúp đỡ con người đó là tư tưởng nhân nghĩa Việt Nam, đó là tư tưởng uống nước nhớ nguồn, đó là tư tưởng, tinh thần cố kết cộng đồng, cố kết làng xã, truyền thống đoàn kết thể hiện tính nhân văn cao cả của dân tộc Việt Nam. Đó là truyền thống một dân tộc độc lập, một quốc gia chủ quyền, đó là lòng khoan dung độ lượng, yêu hoà bình ghét chiến tranh, tính bình đẳng trong quan hệ xã hội, tinh thần kính già yêu trẻ, tinh thần hiếu học. Tổng hợp các nội dung trên đó là truyền thống yêu nước, đó là truyền thống cơ bản là sợi chỉ đỏ, là nội dung cốt cõi chủ đạo của các truyền thống Việt Nam.
          Tinh hoa văn hóa thế giới: Đó là tư tưởng nhân văn nho giáo, phật giáo: đề cao vị trí, vai trò của con người
          Nho giáo: Coi con người là trung tâm của vũ trụ, con người thể hiện mức tiến hoá cao nhất, con người phải được quan tâm, giáo dục là trước hết là phải quan tâm đến đời sống của họ.
          Phật giáo: Đánh giá cao địa vị con người, coi con người là lực lượng mạnh nhất, tinh thần hy sinh thân mình để cứu khổ
          Đó là tư tưởng của các nhà khai sáng phương Tây; tự do công bằng, bình đẳng bác ái thực chất là đề cao quyền con người chống lại chế độ quân chủ chuyên chế của các nhà tư tưởng XanhXiMông, Vonte
          Chủ nghĩa nhân văn Mác xít, Mác nói: “tư do của một con người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi con người. Tụ do là tất yếu nhận thức. Nhận thức quy luật cải tạo thế giới, chinh phục thế giới phục vụ con người”.
          Và nguồn gốc cuối cùng hình thành tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh đó là hoạt độn thực tiễn của Người nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
          Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh hình thành từ hoạt động thựuc tiễn của Người thông qua các giai đoạn phát triển sau:
          Từ 1911 trở về trước: là giai đoạn hình thành tinh thần yêu thương con người, hình thành sự quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước
          Từ năm 1911- 1920: là giai đoạn khảo sát thế giới, trí nhân văn của Người vươn tới thế giới.
          Từ năm 1920- 1969: là giai đoạn tiếp thu chủ nghĩa nhânvăn chủ nghĩa Mác là quyết tâm thựuc hiện mục tiêu đó. Suốt cuộc đời Người đều nhằm thực hiẹn mục tiêu nhân văn cao cả: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
          Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh gồm có những nội dung cơ bản sau:
          Tình yêu thương vô hạn của Hồ Chí Minh đối với con người đối với nhân dân.
          Trong hành trang ra đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh, yêu nước và thương dân là hai động lực thôi thúc nhất. Hoài bão nung nấu ở Người, từ những năm đầu tiên của thế kỷ XX, là tìm cách sang Pháp và các nước phương Tây xem họ làm thế nào rồi về giúp đồng bào mình.
          Trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh từng bước hoàn chỉnh lý luận về con người.
          Năm 1924, Người viết: “Vởy là dù mầu da có khác nhau, trên đời này chỉ có 2 giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Và cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”
          Năm 1949, trong tác phẩm cần, kiệm, liêm, chính, Hồ Chí Minh viết: “ trên quả đất, có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm 2 hạng người thiện và ác”.
          Và khi lý giải mối quan hệ” Đối với người” Hồ Chí Minh giải thích:” chữ người nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước rộng hơnlà loài người đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ”
          Lý luận về con người ở Hồ Chí Minh cho thấy:” Những người cùng lao động trong một nhà máy, trong một cơ quan, trong một hợp tác xã đều phải đoàn kết, thường yêu nhau như anh em. Rộng hơn nữa là đồng bào cả nước yêu thương nhau như anh em trong một gia đình.
          Tình yêu thương con người của Hồ Chí Minh là sự đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ, những người dân mất nước nô lệ lầm than.Người nói lòng yêu thương của tôi với nhân dân không bao giờ thay đổi.
          Hồ Chí Minh, luôn tin tưởng vào sức mạnh và tính sáng tạo của con người.
          ở Hồ Chí Minh lòng yêu thương mang một nội dung mới, sâu sắc, chứa đựng một ý nghĩa cách mạng thực sự luôn tin tưởng vào sức mạnhvà tính sáng tạo của con người
          Năm 1921 Người viết:” Không: Người Đông Dương không chết, người Đông Dương vẫn sống, sống mãi mãiđằng sau sự phục tùng tiêu cực, Người Đông Dương đang dấu một cai gì sôi sục gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê ghớm khi thời cơ đến”
          Hồ Chí Minh khái quát:” Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”
          Người chỉ rõ: đã là người cộng sản thì phải tin cậy vào nhân dân, niềm tin vào quần chúng sẽ tạo ra sức mạnh của người cộng sản và sự nghiệp cách mạng của Đảng. Hồ Chí Minh là lãnh tụ luôn có niềm tin không thay đổi: Dân chúng rất tốt, rất sáng suốt, rất khôn khéo, rất anh hùng Người coi đó là chân lý và đòi hỏi” Người cán bộ phải ghi tạc vào đầu cái chân lý đó”
          Từ chỗ tin vào sức mạnh và khả năng cách mạng, tính sáng tạo của quần chúng nhân dân, mà suy nghĩ thường trực của Hồ Chí Minh là: “xem tài dân, sức hèn, của dân làm lợi cho dân”.
          Hồ Chí Minh luôn quý trọng con người và kính trọng nhân dân. Trong bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khoá II trường đại học nhân dân Người đưa ra định nghĩa về chữ nhân:” Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”
          Theo Hồ Chí Minh, trước hết cán bộ, đảng viên phải tin dân, kính dân thì mới được lòng dân yêu quý kính trọng. Tổng kết kinh nghiệm công tác cán bộ Người lưu ý “ phải biết trọng nhân dân. Tôn trọng có nhiều cách, không phải ở chỗ chào hỏi kính thưa có lễ phép mà đủ , không được phung phí nhân lực của dân. Khi huy động nên vừa phải không nên nhiều quá, lãng phí vô ích Biết giúp đỡ nhân dân cũng là biết tôn trọng dân”.
          Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng sức dân và phát huy sức mạnh của nhân dân
          Theo một quan niệm nhất quán “ do nhiều người nhóm lại thành một làngnếu mỗi người đều tốt, thì thành làng tốt, nước mạnh. Người là gốc của làng nước” nên Hồ Chí Minh rất quan tâm chăm lo, bồi dưỡng sức dân. Từ cuộc đấu tranh giành độc lập tự do đến xây dựng chủ nghĩa xa hội. Người quan tâm đến giáo dục, giác ngộ quần chúng, tổ chức quần chúng” đem tinh thần mà chiến thắng vật chất”. Đối với Hồ Chí Minh bồi dưỡng trí tuệ, nhân cách quần chúng nhân dân là vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu xuyên suốt quá trình cách mạng.
          Lòng khoan dung, độ lương: Trong tác phẩm Đường Cách mệnh (1927) Hồ Chí Minh viết: “với từng người thì khoan thứ”. Lòng khoan dung của Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống “ Người trong một nước phải thương nhau cùng”; tất cả đều là con dân nước Việt, con lạc, cháu Hồng, mỗi người đều có cái thiện, cái ác trong lòng ta phải biết làm sao cho phần tốt này nở như hoa mùa xuân: dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng bác ái: Chính sách của chính chủ là đoàn kết Tất cả kết hợp với chủ nghĩa nhân đạo Mác Xít tạo thành một lòng khoan dung, độ lượng mà không phải lãnh tụ nào cũng có và ứng xử được.
          Đối với Hồ Chí Minh con người vừa là động lực vừa là mục tiêu giải phóng của cách mạng
          Trung thành với tư tưởng của chủ nghĩa yêu nước truyền thống về vai trò của con người trong sự nghiệp cứu quốc và với quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và vai trò của quần chúng và cá nhân trong lịch sử trong khi khẳng định mục tiêu của cách mạng là giải phóng con người, mang lại tự do, hạnh phúc cho con người, Hồ Chí Minh cũng đồng thời khẳng đỉnhằng sự nghiệp giải phóng là do chính bản thân con người thực hiện.
II. TƯ TƯỞNG NHAN VĂN HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.     Sự nghiệp đổi mới và bài học của Hồ Chí Minh
Cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh là một chuỗi dài những gian nan thử thách những kiên trì và nhẫn nại, tin tưởng ở dân tộc và ở bản thân mình, Hồ Chí Minh đều vượt qua gian nan để đạt tới thắng lợi.
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, đó là phương châm mà Hồ Chí Minh đã nêu ra cho toàn Đảng và bản thân mình. Cái “bất biến” đó chính là mục tiêu độc lập- tự do và chủ nghĩa xã hội. Chính là học thuyết Mác- Lênin, chính là niềm tin vào sức mạnh vô tận của quần chúng nhân dân và con người.
Với cái “bất biến” nói trên Đảng ta đã vạch đường đi cho đất nước: phát triển kinh tế, ổn định được chính trị xã hội. Trong hoàn cảnh khủng hoảng tan giã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nhiều nước.
Đảng ta đã kế thừa ở Hồ Chí Minh một cái nhìn biện chứng và toàn diện khi giải quyết mọi vấn đề đất nước: gắn liền chính trị với kinh tế, vật chất và tinh thần, truyền thống và hiện đại, dân tộc và thế giới. Đảng đã phát huy tiềm năng vô tận của con người trong giai đoạn mới.
Với di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, sau 20 năm đổi mới đất nước chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, bước đầu đã thực hiện lòng mong mỏi suốt đời của Hồ Chí Minh là đem lại cho nhân dân đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc
Đến nay, Đảng ta nêu ra khẩu hiệu:” Dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” chính là khái quát và thựuc hiện lời dặn của Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội mới và con người mới. Dân giàu nước mạnh là mục tiêu phấn đấu của nước ta ngày nay, nhưng mục tiêu đó vẫn chưa đủ. Dân giàu, nước mạnh nhưng con người còn phải phấn đấu cho một xã hội công bằng dân chủ văn minh.
2.     Phấn đấu cho hạnh phúc của con người trong một xã hội công bằng
Công bằng xã hội là khát vọng của con người là tác động to lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội. Hồ Chí Minh đã từng nói: Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng.
Hiện nay trong nền kinh tế thị trường, công bằng xã hội chấp nhận dảm bảo đồng thời cả lợi ích của người lao động lẫn lợi ích của các nhà đầu tư. Chấp nhận bình đẳng của mọi thành phần kinh tế tuy vẫn khẳng định vị trí chủ đạo của kinh tế nhà nước nhiệm vụ của chính sách xã hội là thống nhất nhân tố ấy trong mục tiêu phát triển kinh tế và hạn chế các mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân. Chính sách xã họi đã được thể chế hoá bằng hệ thống pháp luật đảm bảo sự công bằng, bình đẳng với mọi người, mọi tầng lớp, mọi thành phần kinh tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
3.     Đào tạo những con người của xã hội văn minh
Hồ Chí Minh nói:” vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.” Sự nghiệp “trồng người” mà Hồ Chí Minh và Đảng ta dày công thực hiện thắng lợi mọi đường lối chủ trương chính sách cũng như mọi sự vững vàng kiên định của Đảng và nhân dân ta dân tộc ta trước mọi thử thách có ý nghĩa sống còn trên bình diện quốc gia cũng như trên bình diện quốc tế.
          Theo tư tưởng Hồ Chí Minh giáo dục là biện pháp quan trọng nhất trong sự nghiệp “ trồng người”. Trong việc “trồng người” Hồ Chí Minh bắt đầu từ xây dựng nền tảng đạo đức: Người thường xuyên bồi đắp cái nền tảng ấy của con người. Người yêu cầu tất cả mọi người không trừ một ai đều phải trau dồi đạo đức cách mạng.
4.     Hồ Chí Minh với sự phát triển toàn diện của con người
Chủ nghĩa Mác coi con người là mục tiêu cao nhất của con người. Con người không chỉ là động lực mà luôn luôn là mục tiêu. Con người chỉ là động lực khi động lực ấy gắn liền với mục tiêu, góp phần thực hiện mục tiêu, con người mong được sống hạnh phúc, được phát triển mọi mặt để xứng đáng với con Người theo chữ viết hoa.
Để phục vụ sự nghiệp giải phóng con người và phấn đấu cho một kiểu con người đẹp nhất, Hồ Chí Minh phê phán cách nhìn phiến diện về con người. Về tiêu chuẩn cán bộ Người phê phán cách nhìn nhận chỉ chú trọng đức mà coi nhẹ tài. Chỉ chú trọng tài mà coi nhẹ đức. Về đào tạo người chú trọng phải phát triển đồng đều cẩhi mặt nhận thức tình cảm và ý chí, phải có sự thống nhất giữa trí, nhẫn, dũng. Trong vấn đề này Hồ Chí Minh là mẫu mực của một con người phát triển toàn diện. Người bình tĩnh, ung dung giải quyết mọi vấn đề trong lúc khẩn cấp nhất của đất nước. Người chan hoà với mọi tầng lớp nhân dân gần gũi với bạn bè trên khắp thế giới, thân thiện với các bậc tu hành của mọi tôn giáo.
Noi gường Người, chúng ta phấn đấu để xây dựng cho hôm nay và cả cho mai sau những con người toàn diện theo kiểu Hồ Chí Minh

PHẦN KẾT LUẬN

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn hành động nhằm đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cả cuộc đời Người không những thấm đượm tình đồng bào, đồng chí, tình năm châu, bốn bể, mà còn nặng nghĩa quên mình luôn đem lợi cho dân, suốt đời tận tuỵ mà không màng tới vinh lợi bản thân.
Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn cộng sản, nhưng không phải hoàn toàn giống như mọ người cộng sản khác, đó là chủ nghĩa nhân văn kết hợp với anh hùng và đạo lý.
Học tập, nghiên cứu tư tưởng nhânvăn Hồ Chí Minh ngày hôm nay khẳng định giá trị to lớn, trường tồn, vĩnh cửu của tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt tư tưởng nhân văn của Người. Đồng thời còn có tác dụngto lớn trong việc giáo dục mọi người hướng tới những giá trị nhân văn cao cả mà Người đã nêu ra và dày công vun đắp để thực hiện thắng lợi công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”.


Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014

Áp dụng phương pháp phân tích tài chính nhằm đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội

MỤC LỤC
MỤC LỤC.. 1
DANH MỤC BẢNG.. 4
DANH MỤC VIẾT TẮT.. 5
MỞ ĐẦU.. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu: 1
2. Mục đích nghiên cứu của Luận văn- 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn- 2
4. Phương pháp nghiên cứu- 2
5. Kết cấu của Luận văn- 2
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI  3
1.ĐẶC TRƯNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM: 3
1.1. Khái niệm và chức năng của NHTM: 3
1.1.1.Khái niệm: 3
1.1.2. Chức năng của NHTM: 3
1.2 Đặc trưng hoạt động kinh doanh của NHTM: 5
21.2.1.       Chủ thể thường xuyên nhận và kinh doanh tiền gửi: 5
1.2.2. Nguồn vốn chủ yếu để các NH tiến hành hoạt động kinh doanh là vốn huy động: 5
1.2.3. Hoạt động kinh doanh của NH mang tính đã dạng phong phú và hàm chứa nhiều rủi ro: 6
2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH-- 7
2.1 Khái niệm phân tích tài chính- 7
2.2. Các phương pháp phân tích tài chính- 7
2.2.1. Phương pháp so sánh. 7
2.2.2. Phương pháp tỷ lệ. 8
2.2.3. Phương pháp Dupont. 8
2.3. Nguồn thông tin phân tích- 9
2.3.1. Báo cáo tài chính- 9
2.3.2. Các báo cáo tài chính NHTM cơ bản- 10
3. PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH NHTM-- 16
3.1. Khái niệm phân tích BCTC NHTM-- 16
3.2. Phương pháp phân tích BCTC của NHTM-- 17
3.2.1 Phương pháp so sánh- 18
3.2.2. Phương pháp loại trừ- 19
3.2.3. Mô hình Dupont 21
3.3. Điểm khác biệt giữa phân tích tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính NHTM-- 21
3.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng phân tích BCTC NHTM-- 23
3.4.1. Nhân tố bên trong- 23
3.4.2. Nhân tố bên ngoài 24
4. NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH NHTM-- 25
4.1. Phân tích hiệu quả. 25
4.1.1. Phân tích khái quát tài sản, nguồn vốn- 25
4.1.2. Phân tích vốn tự có- 26
4.1.3. Phân tích hoạt động huy động vốn- 27
4.1.4. Phân tích tình hình sử dụng vốn- 28
4.2. Phân tích lợi nhuận- 33
4.2.1. Phân tích thu nhập chi phí: 33
4.2.2 .Phân tích lợi nhuận và khả năng sinh lời. 34
4.2.3. Một số chỉ tiêu thể hiện khả năng sinh lời của NHTM-- 35
4.3 Phân tích rủi ro- 36
4.3.1. Rủi ro thanh khoản- 36
4.3.2. Rủi ro lãi suất 38
a. Mô hình kỳ hạn đến hạn: 38
b. Mô hình định giá lại 39
c. Mô hình thời lượng- 41
4.3.3. Rủi ro tỷ giá- 41
4.3.4. Rủi ro thị trường- 42
Kết luận chương 1- 42
CHƯƠNG II:   THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI  44
1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI- 44
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển: 44
1.2. Cơ cấu tổ chức- 46
1.3. Một số hoạt động kinh doanh chủ yếu- 47
2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI THÔNG QUA PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH   48
2.1. Phân tích khái quát về quy mô, cơ cấu tài sản và nguồn vốn- 48
2.2. Phân tích tình hình nguồn vốn của MB-- 59
2.3 Phân tích hoạt động huy động vốn- 62
2.4. Phân tích hoạt động tín dụng- 69
2.5. Phân tích hoạt động liên ngân hàng và đầu tư- 75
2.6. Phân tích tình hình thu nhập chi phí 81
2.7 Phân tích tình hình lơi nhuận và khả năng sinh lời 86
3. NHẬN XÉT CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH BCTC TẠI MB-- 87
3.1 Những kết quả đạt được- 87
3.2 Những tồn tại và nguyên nhân- 90
3.2.1 Tồn tại 90
3.2.2. Nguyên nhân- 92
a. Trình bày BCTC không đầy đủ, kịp thời và chưa đủ độ tin cậy- 92
b. Nhân sự và công tác tổ chức phân tích- 93
c. Một số nguyên nhân khác- 95
Kết luận chương 2- 96
CHƯƠNG 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI NHTM CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI. 98
1.ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTMCP QUÂN ĐỘI- 98
2. HỆ THỐNG GIẢI PHÁP HÓA HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CÔNG TÂC PHÂN TÍCH BCTC TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI  99
2.1 Giải pháp về nhân lực: 99
2.2. Hiện đại hoá công nghệ NH: 100
2.3. Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin nội bộ: 100
2.4.Đa dạng hoá các phương pháp phân tích: 101
2.5.Bổ sung thêm một số chỉ tiêu trong quá trình phân tích: 101
2.5.1. Đối với phân tích cơ cấu tài sản nguồn vốn: 101
2.5.2.Đối với trích lập quỹ của NH-- 102
2.5.3.Đối với phân tich vốn huy động: 103
2.5.4.Đối với đánh giá khả năng thah toán của NH: 104
2.5.5.Đối với phân tích hoạt động tín dụng: 105
2.5.6.Đối với phân tích thu nhập chi phí của NH. 107
2.6.Hoàn chỉnh cách tính hệ số an toàn vốn(hệ sô COOKE): 108
2.7.Cần quan tâm đến phân tích rủi ro của NH: 108
2.8 Cần triển khai thực hiện phân tích lưu chuyển tiền tê: 109
3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ- 110
3.1 Một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước : 110
3.2 Đối với các NHTM-- 111
Kết luận chương 3- 112
KẾT LUẬN.. 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 114

 DANH MỤC BẢNG

Sơ đồ 1. Cơ cấu tổ chức. 46
Bảng  2. Phân tích quy mô, cơ cấu tài sản. 50
Bảng 3. Phân tích quy mô, cơ cấu nguồn vốn. 55
Bảng  4. Đánh giá VTC của MB.. 60
Bảng  5. Phân tích cơ cấu nguồn vốn huy động của MB.. 64
Bảng  6. Tỷ trọng các loại tiền gửi tại MB giai đoạn 2010 - 2012. 67
Bảng  6. Tỷ trọng các loại tiền gửi tại MB giai đoạn 2010 - 2012. 68
Bảng  8. Tổng dư nợ. 69
Bảng  9. Phân tích cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế. 70
Bảng  10. Phân tích cơ cấu tín dụng theo kì hạn. 71
Bảng  11. Phân loại dư nợ tín dụng theo nhóm nợ. 72
Bảng  12. Tình hình trích lập và xử lý nợ bằng quỹ dự phòng năm 2011 - 2012. 73
Bảng  13. Hoạt động liên ngân hàng. 75
Bảng  14. Tỷ trọng góp vốn, đầu tư trên tổng tài sản có. 76
Bảng  15. Phân loại góp vốn đầu tư dài hạn. 78
Bảng  16. Tỷ lệ cấp vốn công ty liên kết 78
Bảng  17. Tình hình thu nhập 2010 - 2012. 81
Bảng  18. Tình hình thu nhập, chi phí lãi 2011 - 2012. 82
Bảng  19. Chi tiết chi phí hoạt động năm 2010 - 2012. 84
Bảng  20. Mức độ sinh lời của ngân hàng. 86
1.      BC CLTT: Báo cáo chuyển lưu tiền tệ
2.      BC TMTC: Báo cáo thuyết minh tài chính
3.      BC TNCP: Báo cáo thu nhập chi phí
4.      BCTC: Báo cáo tài chính
5.      CĐKT: Cân đối kiểm toán
6.      DTBB: Dựu trữ bắt buộc
7.      GTCG: Giấy tờ có giá
8.      LNST: Lợi nhuận sau thuế
9.      LNTT: Lợi nhuận trước thuế

10.                        NH: Ngân hàng

11. NHNN: Ngân hàng nhà nước
12. NHTM: Ngân hàng thương mại
13. NHTMCP Quân Đội  : Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MB)
14. QĐ: Quyết định
15. TCTC: Tổ chức tài chính
16. TCTD: Tổ chức tín dụng
17. TSCĐ: Tài sản cố định
18. VCSH: Vốn chủ sở hữu
19. VĐL: Vốn điều lệ
20. VHĐ: Vốn huy động
21. VTC: Vốn tự có


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:

Với ý nghĩa thực sự cấp thiết của việc phân tích báo cáo tài chính, sau quá trình tìm hiểu thực tế về tài chính kế toán ở MB, tôi đã đi đến quyết định lựa chọn đề tài: “Áp dụng phương pháp phân tích tài chính nhằm đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế.
Thứ nhất, nghiên cứu đề tài này giúp tôi Hệ thống, phân tích luận giải và làm rõ hơn 1 số vấn đề lý luận về báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính của NHTM
Thứ hai, nghiên cứu đề tài giúp tôi đi sâu phân tích đánh giá đúng mức công tác phân tích báo cáo tài chính của ngân hàng TMCP Quân Đội.
Cuối cùng, nghiên cứu đề tài này giúp tôi có thể đề xuất hệ thống giải pháp nhằm  hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính của NHTMCP Quân Đội.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp bao gồm:  phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, luận giải, so sánh và tư duy logic kinh tế với hệ thống sơ đồ, bảng biểu nhằm làm sáng tỏ vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu.

5. Kết cấu của Luận văn

Chương 2: Ứng dụng các phương pháp phân tích tài chính tại Ngân Hàng Quân Đội